Kỷ niệm 60 năm ngành Lâm nghiệp Việt Nam và quá trình phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi

Đăng vào 26/11/2019

             Ngay từ buổi đầu bình minh của lịch sử nhân loại, con người đã lấy từ rừng các thức ăn, chất đốt, vật liệu phục vụ cuộc sống; rừng được coi là cái nôi sinh ra và là môi trường sống của con người. Đến thế kỷ 17, hệ thống quản lý rừng được ra đời tại châu Âu, đánh dấu một xu hướng mới trong việc khai thác tái tạo tài nguyên rừng. Khai thác, lợi dụng và tái tạo tài nguyên rừng ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội luôn đòi hỏi phải có hệ thống quản lý rừng thích hợp. Hai quá trình này phát triển ngày càng cao và dần dần hình thành ngành lâm nghiệp. Ngành lâm nghiệp ra đời ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Như vậy, lâm nghiệp ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội đối với rừng và vai trò của xã hội đối với rừng thông qua chức năng quản lý, gìn giữ và phát triển rừng.
             I. Lịch sử ra đời ngày Lâm nghiệp Việt Nam:
             Ngày 28/11/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” đăng trên báo Nhân Dân. Trong báo này Người đã viết “Chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều  . . . Trong mười năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn”. Thực hiện lời kêu gọi của Bác, ngày 12/12/1959, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 443/TTg về tổ chức Tết trồng cây lần thứ nhất vào năm 1960, kể từ đó đến nay, phong trào trồng  cây hàng năm được tổ chức rộng khắp cả nước. Theo đề nghị của Bộ Lâm nghiệp để cổ vũ động viên cán bộ, công nhân viên chức hoạt động trong ngành lâm nghiệp của cả nước thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 380/TTg ngày 28/6/1995 lấy ngày 28/11 làm ngày truyền thống cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam.
               II. Quá trình hình thành và phát triển ngành Lâm nghiệp Việt nam
              Ở Việt Nam, tiền thân của ngành lâm nghiệp có tên gọi là cơ quan Lâm chính. Đến năm 1945 Hội đồng Chính phủ thành lập Bộ Canh nông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 69/SL xác nhập cơ quan Lâm chính trực thuộc Bộ Canh nông. Đến năm 1955, Bộ Canh nông đổi tên thành Bộ Nông lâm. Năm 1956 thành lập Cục Lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông lâm. Năm 1960, tách Tổng Cục Lâm nghiệp thành cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Năm 1963 thành lập Cục Bảo vệ lâm nghiệp thuộc Tổng cục lâm nghiệp, đến ngày 21/5/1973 chuyển Cục Bảo vệ lâm nghiệp thành Cục Kiểm lâm nhân dân (nay là Cục Kiểm lâm).
                Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, ngành lâm nghiệp tồn tại 3 cơ quan quản lý lâm nghiệp với quan hệ trực thuộc khác nhau: 
 - Tại Hà Nội có Tổng cục Lâm nghiệp, là cơ quan trực thuộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; 
- Tại thành phố Đà Nẳng có Ban Lâm nghiệp Trung Trung bộ, trực thuộc Ủy Ban nhân dân Cách mạng Trung Trung Bộ; 
- Tại Sài Gòn có Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam trực thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. 
            Năm 1976, Quốc hội Việt Nam thống nhất thành lập Bộ Lâm nghiệp trong cơ cấu của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở nền tảng là Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1995, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa IX thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp; Bộ Nông nghiệp & Công nghiệp thực phẩm; Bộ Thủy lợi. Kể từ đó ngành lâm nghiệp trực thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
            Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, ngày 03/7/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/2017/QĐ-TTg Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo đó, Tổng cục Lâm nghiệp là tổ chức trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về lâm nghiệp trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục theo quy định của pháp luật.
            Nhìn lại lịch sử quá trình hình thành và phát triển của ngành Lâm nghiệp Việt Nam với tiền thân là cơ quan Lâm chính (trước năm 1945), Bộ Canh nông (1945), Bộ Nông lâm (1955),Bộ Lâm nghiệp (1976), tiếp đến hợp nhất với các Bộ để thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1995), ngành Lâm nghiệp đã thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Chính phủ giao là khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ, quản lý rừng, bảo vệ rừng, trồng rừng, phát triển rừng; quản lý, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu.
              III. Quá trình phát triển ngành Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi:
             1. Giai đoạn từ 1976 đến  tháng 6/1989 (tỉnh Nghĩa Bình cũ): Trong giai đoạn này ngành Lâm nghiệp hình thành các Nông, Lâm trường trực thuộc Ty Lâm nghiệp tỉnh Nghĩa Bình, thực hiện chức năng trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng chắn gió, chắn cát bay ven biển và trồng cây phân tán phục hồi môi trường sống sau chiến tranh. Bên cạnh đó, các Lâm trường ở các huyện miền núi được giao chỉ tiêu khai thác gỗ từ 1.000 - 5.000 m3 /năm phục vụ các công trình xây dựng cơ quan nhà nước, trường học, bệnh viện … làm cho diện tích rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Độ che phủ rừng thời điểm này đạt khoảng 19%. 
          2. Giai đoạn từ tháng 7/1989 đến tháng 12/2004 (giai đoạn tái lập tỉnh Quảng Ngãi và thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991):
Ngày 01/7/1989 tỉnh Quảng Ngãi được tái lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Trong giai đoạn này thực hiện theo Quyết định 327-CT ngày 15/9/1992 của Thủ tướng Chính phủ, về mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc trên cơ sở bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng mới, khai thác bãi bồi ven biển và mặt nước nuôi trồng thủy sản, trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, xây dựng cơ sở hạ tầng, tiếp nhận lao động dân cư đến vùng dự án. Nắm bắt cơ hội trên, ngành Lâm nghiệp Quảng Ngãi đã nhanh chóng thực hiện Dự án PAM 4304 (thời gian thực hiện 1992 kết thúc năm 1998). Trồng rừng ven biển và Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc.                   Đã trồng trên 12.100 ha rừng cây Phi lao phủ kín hầu như toàn bộ những bãi cát chạy dọc ven biển từ huyện Bình Sơn đến Đức Phổ. Chương trình 327 trồng được 12.500 ha rừng . Độ che phủ rừng của tỉnh tăng lên 24,6% vào năm 1998.
            Để tiếp tục phát huy kết quả của Chương trình, đáp ứng yêu cầu bức xúc về bảo vệ môi trường, phòng chống bão lũ, thiên tai và đòi hỏi phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế - xã hội, ngày 29/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 661 QĐ/TTg về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng với các nhiệm vụ cụ thể:
           - Đẩy mạnh tốc độ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chú trọng bảo vệ vốn rừng hiện có và rừng trồng mới, phát huy có hiệu quả chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và phát huy tính đa dạng sinh học, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước,
             - Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho dân cư, góp phần thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất và ổn định đời sống, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhờ đó độ che phủ rừng của tỉnh tăng lên 29,2% vào năm 2004.
 3. Giai đoạn từ 2005 đến 2014 (giai đoạn thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004)
            Giai đoạn này tỉnh Quảng Ngãi cùng với cả nước thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; thể chế hóa các quan điểm phát triển lâm nghiệp của Đảng từ nền lâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu, sang xã hội hóa nền lâm nghiệp với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Đây là giai đoạn sôi động nhất về công tác  bảo vệ phát triển rừng và hợp tác Quốc tế; nhiều chương trình, dự án lâm nghiệp được triển khai thực hiện, đáng chú ý nhất là Chương trình trọng điểm Quốc gia Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (Dự án 661); Tỉnh Quảng Ngãi đã thành lập Ban Chỉ đạo, Ban điều hành, Ban quản lý dự án từ cấp tỉnh đến huyện. Đã có 12 Ban quản lý cơ sở được thành lập. Dự án trồng rừng trên hầu hết các huyện (trừ thành phố Quảng Ngãi và huyện đảo Lý Sơn). Kết quả sau 12 năm thực hiện (1998 - 2010), dự án đã trồng mới 23.112 ha rừng phòng hộ và 55.000 ha rừng sản xuất, bình quân mỗi năm dự án trồng mới trên 7.000 ha rừng. Bên cạnh đó, dự án còn thực hiện khoán quản lý bảo vệ rừng 523.241 lượt/ha; khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên và có trồng bổ sung 66.332 ha. Qua thời gian khoanh nuôi đã có gần 60.000 ha thành rừng. Nhờ vậy đã nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh từ 24,6% năm 1998 lên gần 44% trong năm 2010. Diện tích rừng tăng thêm là 104.236 ha. Bình quân mỗi năm diện tích rừng của tỉnh tăng thêm 8.000 ha. Qua 12 năm thực hiện, dự án đã biến gần 80.000 ha đất trống đồi núi trọc trở thành rừng; giao khoán hàng trăm nghìn lượt ha bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tạo việc làm cho gần 10 nghìn hộ trong vùng dự án. Từ đó đã hình thành trong cộng đồng dân cư miền núi biết làm nghề rừng, giữ rừng và xóa bỏ dần tập quán du canh, du cư phát rừng làm nương rẫy.
Bên cạnh đó, các dự án sử dụng nguồn vốn vay, vốn viện trợ của các chính phủ, tổ chức tín dụng quốc tế được thực hiện,  như: 
              - Dự án JBIC: Diện tích trồng rừng phòng hộ từ nguồn vốn ODA là 4.846 ha/5.366 ha, đạt 90,3 %. Các loài cây đưa vào trồng rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh gồm: Dầu rái, Sao đen, Lim xanh, Lim xẹc, Chò chỉ … .
              - Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp WB3 trồng rừng sản xuất nguồn vốn vay từ Ngân hàng Thế giới, bắt đầu thực hiện từ năm 2005 đã trồng mới được 13.717ha, đo đạc và cấp giấy chứng nhận QSD đất: 7.666 ha/5.994 hộ dân, Dự án tiến hành đánh giá nội bộ rừng trồng, chứng nhận cấp chứng chỉ rừng trồng FSC với diện tích 315ha/60 hộ dân,
              -  Dự án trồng rừng trên đất cát ven biển PACSA: 414,5ha rừng phòng hộ.
            - Dự án phục hồi và quản lý rừng bền vững KFW6 do Ngân hàng Tái thiết Đức tài trợ từ năm 2006, đã trồng mới và khoanh nuôi trồng bổ sung 1.072 ha, 
              Nổi bật nhất trong giai đoạn này là tỉnh đã quy hoạch tại Quyết định số 871/QĐ-UBND ngày 23/4/2007 về việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ); tạo cơ chế, chính sách thúc đẩy, phát triển nhanh và bền vững về lâm nghiệp. Độ che phủ của rừng đạt 48,2% vào năm 2013.
             4. Giai đoạn tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp từ năm 2015 đến nay
           4.1 Các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp sản xuất về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
          a. Cơ quan quả lý nhà nước.
           - Chi cục Kiểm lâm: Năm 2015, Chi cục Kiểm lâm được tổ chức và hoạt động theo Nghị định số 119/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Năm 2016, thực hiện Thông tư Liên tịch số 14 và số 15 của Bộ Nông nghiệp và PTNT - Bộ Nội vụ; UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 về việc hợp nhất Chi cục lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm thành Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi và ban hành                      Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, với tổng biên chế hiện nay là 196 người. Trong đó: Công chức 95 biên chế; Viên chức 85 biên chế và 16 HĐĐ theo Nghị định số 68/CP. Thạc sỹ: 10 người, chiếm tỷ lệ 0,5%; Đại học 151 người, chiếm tỷ lệ 77%; còn lại là cao đẳng và trung cấp.
           Để tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR ngay tại cơ sở, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm phân công, bố trí 97 CC, VC Kiểm lâm phụ trách trên 172 xã có rừng, chiếm tỷ lệ 58 % tổng số công chức, viên chức Kiểm lâm hiện có. Việc phân công kiểm lâm phụ trách địa bàn xã là chủ trương đúng đắn, tạo ra chuyển biến tích cực trong nhận thức và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của kiểm lâm theo quan điểm xã hội hóa, đồng thời tạo ra bước tiến mới trong công tác bảo vệ rừng. Chủ trương này đã làm thay đổi cơ bản nhận thức, quan điểm của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; ý thức trách nhiệm của chủ rừng, người dân được nâng lên rõ rệt; rừng được quản lý, bảo vệ tốt hơn, độ che phủ rừng tăng hàng năm; chế độ chính sách đối với KLĐB từng bước được cải thiện tạo động lực cho KLĐB yên tâm công tác, bám địa bàn được phân công. 
             - Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh: Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh Quảng Ngãi được thành lập tại Quyết định số 2378/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND tỉnh trên cơ sở hợp nhất 07 Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh và đi vào hoạt động kể từ ngày 01/02/2019.
Ban Quản lý rừng là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi. Ban Quản lý rừng là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi thường xuyên thông qua dịch vụ môi trường rừng và các nguồn kinh phí hợp pháp khác (nếu có); có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản riêng để giao dịch theo quy định của pháp luật.
Chức năng của Ban Quản lý rừng: Quản lý bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn; tiếp nhận, quản lý sử dụng các nguồn vốn ngân sách Trung ương, của tỉnh, các nguồn vốn đầu tư theo các chương trình, dự án của các tổ chức ngoài nước; PCCCR; cung ứng dịch vụ giống cây trồng; khôi phục và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái, cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định của quy định pháp luật. Tổng biên chế được giao là 81 người, biên chế hiện có 67 người, ngoài ra còn có Hợp đồng chuyên trách bảo vệ rừng: 45 người (Thực hiện theo Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về Kiểm lâm và Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng). Tổng diện tích rừng và đất quy hoạch phòng hộ do đơn vị quản lý là: 106.394,66 ha, thuộc địa bàn 06 huyện miền núi của tỉnh. 
              - Quỹ bảo vệ và phát triển rừng: được Chủ tịch UBND tỉnh thành lập tại Quyết định số 998/QĐ-UBND ngày 04/7/2012 và đi vào hoạt động vào tháng 10 năm 2013. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quỹ thực hiện theo Quyết định số 999/QĐ-UBND ngày 04/7/2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định 1526/QĐ-UBND ngày 06/9/2018) của Chủ tịch UBND tỉnh, gồm: Hội đồng quản lý Quỹ, Ban Kiểm soát Quỹ và Ban Điều hành Quỹ. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Ngãi là đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo chi thường xuyên cho các hoạt động tiếp nhận tiền ủy thác từ bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng và thực hiện chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (chủ rừng).
              - Ban quản lý dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ (JICA2) Quảng Ngãi: Ban quản lý dự án được thành lập từ năm 2012 và hoạt động đến năm 2021, với biên chế là 13 người. Trong đó: 02 biên chế kiêm nghiệm và 11 biên chế chuyên trách. Mục tiêu của dự án là phục hồi và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn; Tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương và chủ rừng phòng hộ; Cải thiện sinh kế cho các cộng đồng, những người sẽ tham gia quản lý rừng phòng hộ.
                b. Các doanh nghiệp: Công ty TNHH 01 thành viên Lâm nghiệp Ba Tơ; Công ty TNHH 01 thành viên Lâm nghiệp Ba Tô và 100 doanh nghiệp sản xuất, chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh. Trong đó: Doanh nghiệp chế biến gỗ dăm là 26; viên nén 08 và 66 doanh nghiệp chế biến gỗ.
               4.2 Về công tác phát triển rừng
             - Giai đoạn 2016-2019 đã thực hiện hỗ trợ quản lý bảo vệ rừng đối với diện tích rừng phòng hộ, rừng tự nhiên sản xuất với tổng diện tích đạt khoảng 402.800   lượt ha, tương đương với 100.700 ha rừng;
             - Đối tượng hỗ trợ theo các nguồn kinh phí từ nhiều chương trình, chính sách khác nhau như: Chương trình bảo vệ và Phát triển rừng, Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; dự án JICA 2; Tiền DVMTR; Quyết định số 2242/QĐ-TTg ngày 11/12/2014 của Chính phủ;...
             - Mô hình quản lý rừng cộng đồng tại 02 thôn Khánh Giang, Trường Lệ với tổng diện tích 1.012 ha được hình thành do dự án KfW6 tài trợ, đến nay vẫn được duy trì và phát triển thành điểm du lịch sinh thái của tỉnh, mô hình quản lý rừng cộng đồng cần được nhân rộng.
            - Đã hoàn thành quy hoạch chi tiết hai khu bảo tồn dự trữ thiên nhiên trên cạn khu Tây huyện Ba Tơ và khu Tây huyện Trà Bồng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Đây là cơ sở rất quan trọng để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng,.... trong tương lai.
           - Diện tích thực hiện khoanh nuôi tái sinh là 4.517,60 ha. 
           - Trồng rừng phòng hộ:
           + Qua thực tiễn, thực tế và các văn bản pháp lý hiện hành có liên quan. Để hạn chế và hướng đến chấm dứt tình trạng xâm lấn, lấn chiếm tranh chấp đất lâm nghiệp nhằm phát triển lâm nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng và làm giàu rừng để đạt chỉ tiêu độ che phủ đến năm 2020 là 52%. Trong giai đoạn này, đã tổ chức thực hiện trồng rừng  phòng hộ với tổng diện tích trên 300 ha, trong đó trồng băng xanh cản lửa kết hợp với việc phân định ranh giới giữa rừng phòng hộ với các loại đất khác, tổng diện tích đạt 200 ha, với tổng chiều dài tương ứng khoảng trên 100 km.
           + Đối với rừng ven biển ngập mặn, nhằm góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu, tổng diện tích trồng rừng ngập mặn đạt khoảng 100 ha, với các loài cây như: Cóc trắng, Dừa nước,...
           - Trồng rừng sản xuất:
            Từ năm 2016-2019, tổng diện tích trồng rừng đạt khoảng trên 100.000 ha, trung bình mỗi năm diện tích trồng rừng khoảng 25.000 ha/năm. Trồng cây phân tán khoảng trên 10 triệu cây; Trong giai đoạn này, diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo FSC khoảng 3.000 ha rừng trồng Keo, trong đó Công ty lâm nghiệp 2.700 ha rừng trồng, nhóm hộ khoảng 300 ha.
Ngoài ra, từng bước nâng cao chất lượng rừng trồng, đa dạng hóa các loài cây trên diện tích đất trồng rừng sản xuất, ngành nông nghiệp đã, đang thực hiện hỗ trợ trồng cây phân tán bằng các loài cây nguy cấp quý hiếm như:  Lim xanh, Huỳnh đàn …
Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác hàng năm ngày một tăng. Theo sô liệu thống kê của Cục Hải quan năm 2018, sản lượng gỗ dăm xuất khẩu trên 3,9 triệu tấn, với giá bình quân 55 đô/tấn thu được 214 triệu 500 ngàn đô.
4.3 Công tác quản lý bảo vệ rừng và xử lý vi phạm
            Hàng năm tham mưu Sở Nông nghiệp và PTNT thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành về công tác PCCCR đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác PCCCR tại địa bàn các huyện, xã và các chủ rừng. Họp dân để tổ chức tuyên truyền 3.240 đợt với 144.935 lượt người tham gia, tuyên truyền trên loa phát thanh của xã 8.825 lượt; tuyên truyền trực tiếp với 7.064 chủ rừng, tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR với 9.164 hộ gia đình và cá nhân; thông tin cấp dự báo cháy rừng hàng ngày trên sóng phát thanh, truyền hình; nhắn tin cảnh báo cháy rừng đến các thành viên BCĐ cấp tỉnh/huyện/xã và Hợp đồng bảo vệ rừng 06 tháng mùa khô của 123, phường, thị trấn vùng trọng điểm cháy rừng, các đơn vị Chủ rừng trên địa bàn tỉnh. Đã tiến hành củng cố, kiện toàn lại thành viên BCĐ CTMTPTLNBV cấp tỉnh, 13 BCĐ CTMTPTLNBV cấp huyện, 141 BCĐ cấp xã; thành lập 54 Ban Chỉ huy PCCCR của Chủ rừng/691 người tham gia, 727 tổ, đội PCCCR cơ sở/8.126 người tham gia; Trong các năm gần đây đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành ở địa phương trong việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra trên địa bàn. 
           Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp chặt chẽ với phòng Cảnh sát PCCC và CHCN - Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Chi cục Kiểm lâm vùng IV và Chi cục Kiểm lâm các tỉnh giáp ranh (theo Quy chế đã ký kết); phối hợp với Trung tâm dự báo Khí tượng thủy văn tỉnh, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thông tin cấp dự báo cháy rừng hàng ngày trên sóng phát thanh và truyền hình; phối hợp Trung tâm Viễn thông (VNPT) Quảng Ngãi nhắn tin cảnh báo cháy rừng đến các thành viên BCĐ các cấp, Hợp đồng bảo vệ rừng 06 tháng mùa khô và các Chủ rừng để triển khai thực hiện các biện pháp PCCCR.
           Đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm tra lâm sản trên các tuyến đường bộ; Tăng cường cài đặt nắm bắt thông tin về tình hình phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh. Trong 5 năm qua đã chỉ đạo tổ chức 3.354 đợt truy quét bảo vệ rừng; phát hiện 1.742 vụ vi phạm; đã xử lý hành chính 1.419 vụ, xử lý hình sự 40 vụ. Thu giữ 1.698 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách 17.073.064.000 đồng. Vốn rừng cơ bản được giữ vũng và phát triển, độ che phủ của rừng đạt 50,63%.
          Ngoài ra, Chi cục Kiểm lâm được giao nhiệm vụ thực hiện Dự án nghiên cứu, lưu giữ và bảo tồn giống cây quế bản địa tại huyện Trà Bồng; đã chọn lọc 200 cây quế trội, trồng 10 ha cây giống. Dự án nâng cao năng lực PCCCR cho lực lượng Kiểm lâm, giai đoạn 2007 đến 2010 giải ngân được 08 tỷ, giai đoạn 2016 -2020 giải ngân được 23tỷ/60 tỷ theo kế hoạch. Nhờ vậy, các trang thiết bị, phương tiện, máy móc, cơ sở vật chất của lực lượng Kiểm lâm được nâng lên đáng kể.
            4.4 Công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng
            - Về thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR): Qua 06 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh, bước đầu đã đem lại những tác động tích cực, tạo cơ chế tài chính mới để phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, thông qua việc chi trả bằng nguồn tiền ủy thác của bên sử dụng DVMTR trả cho bên cung ứng DVMTR, từng bước cải thiện thu nhập cho những đối tượng trực tiếp lao động bảo vệ và phát triển rừng bằng kết quả lao động của chính họ, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, tạo niềm tin, động lực để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng bền vững; góp phần bảo đảm an sinh xã hội, an ninh chính trị và trật tự xã hội ở các địa bàn dân cư, nhất là ở vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
           Đến nay, các đơn vị ký hợp đồng ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng 17 hợp đồng (Quỹ tỉnh trực tiếp ký hợp đồng 11 hợp đồng, Quỹ Việt Nam trực tiếp ký 06 hợp đồng) gồm 11 hợp đồng ủy thác với các đơn vị sản xuất thủy điện, 07 hợp đồng ủy thác các đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch. Tổng số tiền thu được trên 30 tỷ đồng; hàng năm, thực hiện chi trả cho trên 17.000 ha rừng,chiếm khoảng 20,8% tổng diện tích rừng được giao khoán toàn tỉnh(diện tích đủ điều kiện chi trả), các đối tượng thụ hưởng gồm: 140 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân; 19 chủ rừng là cộng đồng dân cư; 01 chủ rừng là tổ chức Nhà nước (BQL rừng phòng hộ tỉnh) và 01 chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp; thực hiện giao khoán cho gần 1.400 hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng. Chính sách đã tạo nguồn thu mới, hỗ trợ kinh phí để duy trì hoạt động cho các chủ rừng nhà nước, nhất là Công ty lâm nghiệp trong bối cảnh khai thác rừng tự nhiên phải tạm dừng. Dự kiến nguồn thu ủy thác chi trả DVMTR trong những năm tới đạt khoảng 15,5 tỷ đồng/năm; với nguồn kinh phí từ DVMTR sẽ góp phần làm giảm áp lực chi ngân sách nhà nước để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương; thực hiện chi trả cho khoảng 30.000 ha rừng, bình quân chi trả đạt 500.000 đồng/ha/năm. Việc chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng và các hộ nhận khoán được công khai, minh bạch bằng hình thức phi tiền mặt (chi trả trực tiếp qua tài khoản cá nhân của Viettel Pay).
                - Công tác trồng rừng thay thế: Từ năm 2015 đến nay, có 19 phương án trồng rừng thay thế diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng sang mục đích khác được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt, với tổng số tiền chủ đầu tư phải nộp về Quỹ tỉnh là: 27.124 triệu đồng, để thực hiện trồng rừng thay thế với diện tích 274 ha (đã thực hiện trồng 125 ha và dự kiến kế hoạch 2019 sẽ tiếp tục trồng thêm trên 61 ha).
                IV. Những khó khăn, thách thức.
              Cùng với thành tựu cơ bản trên, thì ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi cũng đang còn nhiều tồn tại và đối mặt với nhiều khó khăn thách  thức đặt ra trong tái cơ cấu, phát triển lâm nghiệp bền vững đó là:
            Thứ nhất, tình trạng phá rừng tự nhiên trái pháp luật để lấy đất; sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt ở các huyện Nghĩa Hành, Đức Phổ (Wkf6) và các huyện miền núi trong tỉnh. Độ che phủ rừng tăng, nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm. Sản phẩm rừng trồng chủ yếu là rừng gỗ nhỏ, giá trị thấp, chưa đáp ứng nhu cầu cơ bản về nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu; nhất là trước yêu cầu truy xuất xứ nguyên liệu theo các Hiệp định thương mại thế hệ mới. Giá trị thu nhập bình quân trên 1 ha rừng trồng mới đạt khoảng 9-10 triệu đồng/ha/năm, đa số người dân làm nghề rừng còn nghèo, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của nông dân miền núi.
            Thứ hai, quản trị doanh nghiệp, công nghệ chế biến; chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh chưa cao. Quy mô sản xuất phổ biến còn nhỏ, kết cấu hạ tầng yếu kém; quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lạc hậu. Năng suất lao động trong chế biến lâm sản của tỉnh còn thấp; chất lượng, mẫu mã sản phẩm kém cạnh tranh. Công nghiệp phụ trợ, vật tư phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp gần như bỏ ngỏ, phụ thuộc vào nhập khẩu.
             Thứ ba, giá trị gia tăng thấp; tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Trình độ tay nghề lao động lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng vẫn chủ yếu là quản canh. Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn nhiều bất cập; công nghệ sinh học và công tác tạo giống chưa được ứng dụng trên quy mô rộng.
Thứ tư, các công ty lâm nghiệp đang hết sức khó khăn. Các lâm trường quốc doanh trước đây, sau khi chuyển thành công ty lâm nghiệp quản lý hơn 1.000ha đất, nhưng sử dụng chưa đạt hiệu quả cao, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm với người dân, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp.
             V. Định hướng phát triển ngành Lâm nghiệp tỉnh trong những năm đến.
             Thứ nhất, quyết liệt thực hiện các giải pháp tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, đảm bảo hoàn thành các định hướng chiến lược phát triển Lâm nghiệp đến năm 2020. Hoàn thành rà soát, đánh giá lại quy hoạch rừng, xác định rõ lâm phận ổn định; thống nhất giữa quy hoạch rừng trên bản đồ và thực địa, giữa ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với ngành Tài nguyên và Môi trường. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác, xử lý kiên quyết các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nhất là hành vi mua bán đất lâm nghiệp trái phép, giám sát thực hiện đầy đủ trách nhiệm tổ chức trồng rừng thay thế. Tăng cường giám sát giao, cho thuê rừng cho tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân, đảm bảo tất cả diện tích rừng có chủ quản lý. Tạo điều kiện tích tụ đất lâm nghiệp, tạo vùng nguyên liệu chủ yếu bằng phương thức liên kết, liên doanh giữa chủ rừng và doanh nghiệp.
            Thứ hai, đẩy mạng công tác truyên truyền các chủ trương chính sách mới của Đảng, giáo dục pháp luật về Lâm nghiệp. Tiếp tục nghiên cứu tham mưu UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung và ban hành cơ chế, chính sách mới thúc đẩy tái cơ cấu ngành, thúc đẩy ứng dụng giống cây lâm nghiệp chất lượng cao được nuôi cấy mô; hỗ trợ người dân chuyển đổi rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn; tiến đến quản lý rừng bền vững. Khôi phục, phát triển rừng ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn thích ứng với biến đổi khí hậu; cơ chế tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp chế biến gỗ, hỗ trợ phát triển thị trường; hỗ trợ liên kết, hợp tác chuỗi với mô hình "cánh rừng lớn", "liên kết bốn nhà"; tín dụng trồng rừng gỗ lớn với lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ cây trồng; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lâm nghiệp.
              Thứ ba, triển khai mạnh mẽ hơn các giải pháp xã hội hóa đầu tư trong lâm nghiệp. Tiếp tục mở rộng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng để tạo nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng. Huy động nguồn vốn ODA và FDI từ các Chính phủ, tổ chức Phi chính phủ và các tổ chức quốc tế thông qua các chương trình dự án quốc tế.
            Thứ tư, tập trung nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Ưu tiên các nghiên cứu cải thiện giống cây trồng và thâm canh rừng, công nghệ chế biến sau dăm gỗ và sản phẩm phụ trợ thay thế hàng nhập khẩu.
Thứ năm, triển khai đồng bộ việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức sản xuất lâm nghiệp, trọng tâm là đối với các công ty lâm nghiệp theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Khẩn trương sắp xếp, đổi mới hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp của tỉnh gọn nhẹ nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành.  Chú trọng nâng cao vai trò, trách nhiệm và điều kiện làm việc cho Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã./.
 

Bùi Vy Khánh - CCKL

Tin khác

BẢN TIN DỰ BÁO CHÁY RỪNG

Kỷ niệm 45 Năm ngành Kiếm lâm

Bạn thấy giao diện, bố cục website thế nào?